Note Đóng lại

Cảm nghiệm sau cuộc đi ủy lạo Bệnh Nhân Phong ở Phú Bình, Thái Nguyên

Những giá trị cuộc sống hiện tại - một cảm nghiệm sau cuộc đi ủy lạo Bệnh Nhân Phong ở Phú Bình, Thái Nguyên

"Cảm ơn đời mỗi sớm mai thức dậy,
Ta có thêm ngày mới để yêu thương!"


Phú Bình, Thái Nguyên - Có ai đó đã từng nói: "Hạnh phúc đôi khi không phải chỉ là những gì ta nhận được mà còn là những gì ta cho đi." Đúng vậy, nếu cuộc sống chỉ là những gì thu gọn cho riêng mình thì đó đâu còn là cuộc sống nữa đâu. Chuyến đi đến trại phong Phú Bình thuộc tỉnh Thái Nguyên vừa rồi đã giúp chúng tôi có thêm nhiều cảm nhận sâu sắc và những khám phá được một phần nào đó trong bức tranh mang tên CUỘC SỐNG!

Thái Nguyên là một tỉnh ở Đông Bắc Việt Nam, tiếp giáp với thủ đô Hà Nội, cách trung tâm Hà Nội 75 km. Thái Nguyên có nhiều dãy núi cao chạy theo hướng bắc-nam. Ba dãy núi quan trọng tại Thái Nguyên được đặt tên là Tam Đảo, Ngân Sơn và Bắc Sơn. Những ngọn núi cao này có một nhiệm vụ rất thiết thực giúp người dân ở đây che chắn được gió mùa đông bắc thổi đến.

Giữa chốn rừng núi Thái Nguyên có Trại Phong Phú Bình (thuộc xã Kim Tân, huyện Phú Bình). Thông thường các Trại Phong tại Việt Nam đều được xây dựng nằm trong vùng rất xâu xa, vì thế muốn vào Trại phong Phú Bình phải rẽ từ đường quốc lộ đi vào những con đường đất nhỏ khó đi, quanh co, khúc khuỷu, phải lâu lắm chiếc xe buýt của đoàn chúng tôi mới tới được cổng trại.

Trại Phong Phú Bình hiện tại có 103 bệnh nhân. Bệnh phong - còn gọi là bệnh hủi hay cùi, do vi khuẩn Hansen gây ra. Hậu quả của chứng bệnh này thường làm cho tứ chi mất dần cảm giác vì dây thần kinh bị nhiễm trùng. Sau đó các bắp thịt teo đi, gân cốt co lại thường làm cho hai bàn tay co quắp. Ở mức độ bệnh trạng phát triển nặng thì các ngón tay ngón chân cứ rụng dần đi. Nói chung bệnh tật này dày vò các bệnh nhân từng ngày, từng giờ và phải cách ly ra khỏi cuộc sống xã hội thường ngày. Tại vùng núi Thái Nguyên này dường như những người bệnh nhân như họ ít được người đời nhắc đến.

Chuyến xe buýt 50 chỗ của chúng tôi bắt đầu chuyển bánh từ Hàng Bột, Hà Nội vào lúc 5h sáng, đoàn chúng tôi gồm 50 người ra đi mang theo bên mình là nước mắm và mì tôm là những quà tặng ủy lạo của Cộng Đoàn Bắc Đức do cha Paul Phạm Văn Tuấn chăm sóc và từ giáo xứ Khiết Tâm Mẹ tại Lincoln (USA) do cha Hilariô Nguyễn Hải Khánh làm chính xứ, cũng như một số bạn Thiện Nguyện ở Hà Nội qua anh Xuân Hòa, là người đại diện thường xuyên tổ chức cho các chuyến đi ủy lạo trong Mùa Chay 2012 này. Được biết cha Paul Tuấn ở bên Đức- người luôn thao thức cho những cuộc đời bất hạnh của bệnh nhân phong và giáo dân trong vùng Bắc Đức thường xuyên quyên góp đã gần 20 năm nay. Lúc còn đang di chuyển trên xe buýt cha Tuấn cũng đã gọi điện thoại trực tiếp từ bên Đức hỏi thăm và động viên đoàn chúng tôi. Vài năm nay Nhà Dòng Thánh Phaolô Hà Nội chúng tôi cộng tác ra công giúp vào công cuộc ủy lạo này. Các Sơ và hơn 100 em Đệ Tử luân phiên thay nhau để đi đến với người bệnh phong. Ai cũng háo hức chờ đến lân mình được đi. Cách đây 2 tuần Nhà Dòng chúng tôi đã làm theo cách thức này đi đến thăm các Bệnh Nhân Phong ở Văn Môn, Thái Bình.

Chúng tôi thì chẳng có gì ngoài lòng nhiệt thành, yêu thương và sự cảm thông đối với những người bệnh phong. Sau một chặng đường khá dài cuối cùng cũng đến Phú Bình, lòng tôi như trào dâng bao nhiêu cảm xúc ngay khi chỉ còn mấy chục vòng xe nữa. Hình ảnh đầu tiên mà chúng tôi nhìn thấy là những dãy nhà nhỏ nối liền nhau, không khí vùng núi đồi Thái Nguyên thật yên tĩnh – khác hẳn hoàn toàn với sự đông đúc, ngột ngạt đầy khói xe ở Hà thành. Ngày hôm nay chúng tôi đến đây thời tiết không được đẹp lắm, mưa bay bay tạo cho chúng tôi cảm giác hơi lạnh lẽo, cô quạnh về một miền đất dường như đang bị lãng quên. Mọi thứ cứ tĩnh mịch, bất động, khác hẳn với lần đầu tiên vào năm 2011 chúng tôi đến đây, lũ trẻ con (con cái của người phong) chạy ào đón chúng tôi như là đón mẹ đi chợ về, niềm vui hiện rõ trên từng khuôn mặt ngây thơ của chúng.

Lần thứ hai đặt chân đến mảnh đất này nên tôi cũng không còn lạ lẫm gì. Chúng tôi chia nhau ra 2-3 người vào một căn phòng nhỏ, mỗi phòng đó có 1-2 người. Mọi người ở đây hầu hết là những người già, không có gia đình, người nào có thì lâu dần cũng không được gia đình quan tâm đến. Căn bệnh quái ác này đã gây nên những vết thương trên thân thể lẫn tinh thần của họ. Những bàn tay, bàn chân không còn nguyên vẹn hay có người còn bị cụt đến cả 2 bàn chân. Hình ảnh bà cụ loay hoay dùn hai khuỷu tay kẹp chiếc thìa xúc cơm, một cụ ông cất bước những bước chậm chạp với đôi chân giả mà ông gọi đùa với chúng tôi rằng đó là "con ngựa sắt" thực dụng của ông. Tim tôi như thắt lại! So với bản thân tôi, chỉ đơn giản là việc ăn ở, sinh hoạt, đi lại thôi đã là khó biết bao trong cuộc sống thường ngày.

Tất cả mọi thứ mà các Bệnh Nhân Phong đang có ở đây chẳng đáng giá gì, rất đơn sơ, nghèo nàn, cũ kĩ và tất nhiên rất thiếu thốn mọi bề. Cả đại gia đình phong cũng chỉ có một cái tivi đặt ở hội trường để mọi người xem chung mỗi tối. Những chiếc mẹt, chiếc bát bằng sắt họ dùng mà tôi cứ nghĩ là từ thời năm 1945. Nhưng ở nơi đây, chúng tôi lại tìm thấy một món quà quý giá hơn cả để nhìn ra: Dù là đau đớn, bệnh tật nhưng những người bệnh phong vẫn cố gắng để sống. Tất nhiên chúng tôi hiểu trước đó họ đã phải có những ngày tháng đau khổ, mặc cảm về bản thân. Những cái nhìn vô hồn khi họ đối diện với chúng tôi lần đầu tiên khiến tôi hiểu rằng họ đã từng bị đối xử như vậy: phải chịu những cái nhìn ghẻ lạnh, bị mọi người ruồng bỏ, xa lánh và… bị xã hội và cả gia đình bỏ rơi hoàn toàn.

Chúng tôi hiểu đây là lúc chúng tôi cần phải mở lòng ra nhiều nhất. Chúng tôi hỏi thăm họ với những gì gọi là chân tình, chúng tôi giúp họ giặt quần áo, khâu áo, quét nhà, đấm lưng cho họ, chúng tôi cố gắng làm tất cả những gì có thể để giúp họ vui và cảm nhận được rằng họ không bị lãng quên, không bị bỏ rơi. Có lẽ chính từ nỗi đau cùng khổ như thế mà nhưng người ở đây luôn thương yêu và đùm bọc lẫn nhau.

Qua công lao của anh Xuân Hòa đã liên lạc với Cha xứ ở đây để cố gắng tổ chức cho chúng tôi có được một thánh lễ trọn vẹn với Bệnh Nhân Phong ngay tại vùng núi Thái Nguyên. Trong tình yêu của Thiên Chúa, chúng tôi được gắn kết với nhau trong sợi dây liên đới và cùng cầu nguyện cho nhau thật nhiều, nhiều bệnh nhân khác tôn giáo cũng đến tham dự thánh lễ với chúng tôi trong hội trường. Sau đó các Bệnh Nhân Phong hát tặng chúng tôi những bài hát, tuy rằng rất lủng củng, sai cả nhạc nhưng đã chứa đựng trong đó là tất cả niềm vui và sự biết ơn. Họ đưa những đôi bàn tay không còn lành lặn đón lấy những thùng mì tôm, những chai nước mắm với niềm vui, niềm phấn khởi hiện rõ trên từng khuôn mặt nhăn nheo, sạm đi theo năm tháng. Món quà cuối cùng mà chúng tôi mang đến cho họ đó là những tô cháo thịt bốc khói nghi ngút (một nhóm chúng tôi được chia ra làm việc hậu cần nấu nồi cháo này với các dụng cụ, gạo và thịt mang theo). Lòng tôi bỗng được hun nóng, ấm hẳn lên không phải vì những làn khói của nồi cháo mà đó chính là tình người, tình chia sẻ.

Tạm biệt núi đồi Thái Nguyên, tạm biệt gia đình Phong Phú Bình nhỏ bé thân thương, chúng tôi lại trở về với cuộc sống hiện tại của mình, mang về trên vai là những món quà tinh thần quý giá. Tất cả chúng tôi đều hiểu rằng: những gì mà chúng tôi hôm nay nhận được đều lớn hơn rất nhiều so với những gì chúng tôi đã cho đi. Nhìn hình ảnh những con người đang vượt lên số phận bệnh tật sẽ là động lực giúp chúng tôi vững vàng bước qua mọi khó khăn trong cuộc sống. Tất cả chúng tôi cũng ý thức được rằng: mình phải luôn biết cho đi, giang rộng đôi tay và đón lấy những gì mà cuộc sống mang đến, cho dù là hạnh phúc lẫn bệnh tật hay khổ đau. Chúng tôi hiểu rằng trong cuộc đời này còn có biết bao mảnh đời bất hạnh và đau khổ cần được quan tâm và chia sẻ, từ đó có thể nuôi dưỡng hạt giống tình thương trong mỗi chúng tôi.

Riêng bản thân tôi tự hỏi rằng, động lực gì đã giúp anh Xuân Hòa, những ân nhân từ Đức, Hoa Kỳ để làm công việc bác ái giúp đỡ những bệnh nhân phong cùi, không chỉ một lần mà luôn liên tục trong nhiều năm như vậy? Những người như thế sẵn sàng bỏ thời gian, tiền của ra giúp đỡ bệnh nhân như vậy để rồi sẽ nhận lại được những gì cho chính mình? Hôm nay nhìn nụ cười rạng rỡ của anh Hòa, tôi biết rằng chỉ có anh mới là người biết rõ nhất. Liệu có khi nào chúng ta nghĩ rằng trong cuộc sống có nhiều người nghèo khổ, bất hạnh như vậy thì chắc hẳn sẽ được đền bù lại chút ít vì có nhiều người giàu lòng bác ái và tốt bụng sẵn sàng đến an ủi họ? Nếu được như vậy thì có lẽ bức tranh cuộc sống chúng ta sẽ luôn tràn ngập những màu sắc tươi thắm rực rỡ!

Bồ Câu Trắng Hàng Bột

Read more ...

Giới Y Tế Công Giáo Tổng Giáo Phận Sài Gòn Tĩnh Tâm Mùa Chay 2012

 

Vào lúc 08giờ sáng ngày chủ nhật 25/03/2012, giới y tế Tổng Giáo phận Sài gòn đã tụ họp về Trung tâm Mục vụ Giáo phận, số 06 bis Tôn Đức Thắng, để tham dự ngày tĩnh tâm tổ chức riêng cho giới với chủ đề “Chúng ta hãy quan tâm đến nhau để khích lệ nhau sống bác ái và làm việc lành”(Dt 10,24).

Giới y tế trong sứ mạng phục vụ Nước Chúa

Sau phần tập hát khởi động, Cha Giuse Vương Sỹ Tuấn triển khai đề tài qua các phần chính:

- Giờ của Chúa, việc rửa chân cho các tông đồ, đối thoại với Giuđa, đối thoại hai lần với thánh Phêrô

- Triển khai sứ điệp Mùa Chay của Đức Thánh Cha Bênêđictô XVI.

Hai chủ đề này được ghép với nhau vì: là nhân viên y tế đồng thời là Kitô hữu, mỗi người có một sứ mạng đặc biệt là Loan báo Tin Mừng Nước Trời và thực hiện sứ điệp Mùa chay Đức Thánh Cha “Sống bác ái quan tâm đến nhau; đó là bổn phận chính yếu của đời sống công giáo.

Xem hình tĩnh tâm

“Thiên Chúa là tình yêu” ta hiểu sao về câu nói này? Con người thường đảo lộn cái nhìn. Thay vì khởi đi từ việc chiêm ngắm Thiên Chúa là tình yêu, để nhận định mọi biến cố thăng trầm trong đời sống, thì người ta lại đi từ những biến cố trong đời để nhận xét về Thiên Chúa. Khi gặp hoàn cảnh thuận lợi người ta bảo Chúa tốt đẹp, Chúa thương ta; ngược lại khi gặp chuyện buồn, người ta trách Chúa ác.

“Thiên Chúa là tình yêu”. Đó không phải là một công thức đức tin mà ta quen miệng thốt lên, nhưng là một hành động yêu thương mà Thiên Chúa đã thực hiện. Theo Tin mừng Ga (13,1-20) “Trước lễ Vượt Qua, Đức Giêsu biết giờ của Người đã đến, giờ phải bỏ thế gian mà về với Chúa Cha. Người vẫn yêu thương những kẻ thuộc về mình còn ở thế gian, và Người yêu thương họ đến cùng…”

Thiên Chúa đã tỏ lộ tình yêu trọn vẹn mà Thiên Chúa dành cho con người bằng việc rửa chân. Chúa biết tất cả những yếu đuối nơi con người và Chúa vẫn yêu thương họ. Chúa rửa chân cho Giuđa, Chúa trao cho Giuđa tấm bánh yêu thương, Giuđa đã đón nhận món quà tình yêu cuối cùng đó nhưng Giuđa vẫn ra đi. Lúc bấy giờ trời đã tối.

Giuđa từ chối Thiên Chúa vì đầy tham vọng vật chất và quyền lực trần thế.

Khác với Giuđa, Phêrô cũng chối Chúa vì nhân danh sự đạo đức, sự trọn hảo. Nghĩ lại đôi khi ta cũng thế, cảm thấy mình không cần được xót thương, và đã thất bại. Cũng thế Phêrô đã chối Chúa ba lần. Nhưng phúc cho Phêrô, ông đã kịp hiểu và nhận ra món quà Chúa ban tặng: “cái nhìn” của Chúa. Phêrô đã khám phá ra tình yêu của Chúa. Chúa luôn trao quà cho chúng ta. Trong lúc đời ta tưởng như tăm tối nhất Chúa vẫn đang trao quà cho ta, điều quan trọng là ta có nhận ra hay không. Có những khi chúng ta tham dự vào các sinh hoạt, vào đời sống bí tích của Giáo Hội nhưng tâm hồn tăm tối, như Giuđa, ta đã xa rời Giáo Hội mà không biết. Có lúc như Phêrô, ta tự hào đủ đạo đức, đã tham gia trọn vẹn đời sồng Giáo Hội. Nhưng thật ra, Chúa muốn người công giáo hơn những người khác không phải vì số lượng việc bác ái nhưng Chúa muốn chúng ta biết yêu thương biết sống trong Chúa Kitô, cùng với Chúa Kitô và sống cho người khác. Phải biết khởi đi từ Thiên Chúa, học nơi Chúa yêu cách cụ thể.

Đỉnh cao của Mùa Chay là khám phá tình yêu của Thiên Chúa nơi Thập giá Đức Kitô để nhận ra “tất cả là hồng ân”. Cần có kinh nghiệm gặp gỡ “Thiên Chúa là tình yêu” để biến đổi cuộc sống, để dấn thân theo Chúa, nối tiếp sứ mạng của Chúa Giêsu loan báo Tin Mừng, loan báo niềm vui cho mọi người. Vì sao ngày hôm nay có nhiều người chạy đến lòng thương xót Chúa? Phải chăng vì người ta cảm thấy cuộc sống thiếu vắng lòng thương xót, thiếu vắng lòng thương xót của anh chị em.

Trên máy bay, trong chuyến viếng thăm Mexico, Đức Giáo hoàng nhận xét “ Trong đời sống tôn giáo, có nhiều người công giáo bị chứng “tâm thần phân liệt”. Họ rất chu toàn bổn phận trong nhà thờ, nhưng khi bước ra khỏi nhà thờ, thì những lựa chọn của họ khác đi, không có sự xuyên suốt khởi đi từ Thánh Thể đến cuộc đời bên ngoài. Cần phải có nền giáo dục Kitô giáo để họ biết hiệp thông trong Chúa, biết quan tâm đến nhau. Trong sứ điệp Mùa Chay, Đức Thánh Cha nói đến bác ái, phải biết quan tâm đến nhau, khích lệ nhau sống bác ái và làm việc lành. Bác ái không phải là đời sống luân lý mà là một trong ba khía cạnh căn bản của đời sống tôn giáo: Rao giảng Lời Chúa để biết nội dung ta tin vào ai; Sống bí tích để gặp gỡ Thiên Chúa và sống điều ta gặp gỡ bằng việc bác ái.

Điều ta cần suy nghĩ trong Mùa Chay này là hãy quan tâm đến nhau, khởi đi từ Thiên Chúa là tình yêu. Ta càng chiêm ngắm Chúa Giêsu ta càng nhận ra sự hiện diện của Thiên Chúa nơi anh chị em, nhận ra những nhu cầu của người khác mà mình có thể giúp đở. Người bệnh thường sợ đau, sợ chết, sợ cô đơn, họ không chỉ cần sự trợ giúp vật chất mà còn cả về đời sống thiêng liêng. Sở dĩ các nhân viên y tế lạnh lùng thờ ơ thiếu quan tâm đến người khác vì họ bị cám dỗ về lợi lộc và hứa hẹn quyền lực.

Cuối cùng, quan tâm đến nhau còn bao gồm việc sửa lỗi huynh đệ. Việc này rất khó vì không ai nhận mình kém, mình sai. Nhưng không vì thế mà ta bỏ lơ việc này. Tất cả mọi việc tốt và xấu của người khác cũng ảnh hưởng đến chính mình. Để thành công trong việc sửa lỗi, cần chú ý đến sự việc “bác ái trong sự thật” và “sự thật trong bác ái”, cần có sự khôn ngoan, tế nhị, khiêm tốn.

Chúa nói “Chúng ta là ánh sáng cho trần gian”. Sứ mạng của Giáo Hội không chỉ đơn thuần là chuyện lưới cá trên đại dương. Trên đại dương có nhiều con tàu cùng đi nhưng nếu chúng ta sống bác ái yêu thương sao cho tàu của chúng ta có thể cùng sống và hát lên niềm vui thì chính niềm vui và bình an của tàu ta sẽ thu hút mọi tàu khác đến với chúng ta. Cuộc sống mỗi chúng ta phải tỏ lộ niềm vui, phải là cuộc sống chứng nhân hữu hiệu nhất. Trước hết, gia đình chúng ta phải là nơi gặp gỡ Đức Giêsu. Trong xã hội, nghề nghiệp của chúng ta là cơ hội tốt để gặp gỡ những người khác, để chúng ta thực hiện bác ái. Ngày quang lâm ta sẽ trả lời cho Chúa đâu là giá trị và đâu không là giá trị trong đời sống chúng ta?

Chia sẻ nhóm và thảo luận chung

Các tham dự viên được chia thành bốn nhóm: nhóm điều dưỡng, nhóm y bác sĩ, nhóm nha dược và nhóm công tác y tế xã hội. Mỗi nhóm cùng chia sẻ những cảm nghiệm, những khó khăn gặp phải khi hành nghề, đặc biệt là trước những cám dỗ ngọt ngào về quyền lực và tiền tiền bạc trong hoàn cảnh xã hội ngày nay. Việc sửa lỗi huynh đệ là việc cần thiết, nhất là trong lĩnh vực chuyên môn vì bất cứ sai sót nào dù nhỏ cũng gây ảnh hưởng đến sự sống.

Bí tích hòa giải

Sau khi ăn trưa, là giây phút thinh lặng gặp gỡ Chúa, trở về với chính mình. Các linh mục đồng hành giúp các tham dự viên hòa giải với Chúa và giải đáp những thắc mắc giúp các bạn sống tốt Mùa Chay thánh..

Cầu nguyện Taizé

Thánh lễ đồng tế

Do Đức cha phụ tá Phêrô Nguyễn Văn Khảm và các cha đồng hành với giới y tế cử hành. Mở đầu thánh lễ, Đức cha phụ tá khen ngợi các bạn sau một tuần làm việc mệt nhọc, bận rộn với các công tác xã hội từ thiện, chỉ có một ngày chủ nhật để nghỉ ngơi, nhưng các bạn đã hy sinh đến đây để gặp gỡ nhau, để tĩnh tâm. Đó là một sự hy sinh, nhưng trong ý nghĩa sâu hơn, sự nghỉ ngơi trong Chúa chính là sự nghỉ ngơi đúng nghĩa của chiều sâu tâm hồn, để mình trở về với chính mình, gặp lại chính bản thân mình trong ánh sáng của Chúa. Đức cha mời gọi mọi người tạ ơn Chúa đồng thời cầu nguyện cho nhau, để công việc y tế gắn liền với việc thực thi bác ái luôn thấm đượm tinh thần Phúc âm, tinh thần của Chúa Giêsu, Đấng đã chịu đóng đinh chịu treo trên thập giá, trong suốt cuộc đời chúng ta.

Trong bài chia sẻ Tin Mừng, Đức cha mời gọi mọi người đọc lại Lời Chúa hôm nay: tiên tri Giêrêmia nói về giao ước mới. Để mọi người hiểu rõ hơn Ngài giải thích về Giao ước cũ mà Thiên Chúa đã ký kết giao ước với dan Do Thái tại núi Sinai. Điều khoản là Mười điều răn Đức Chúa Trời. Trong Giao ước mới, điều khoản của giao ước vẫn là Mười điều răn Đức Chúa Trời nhưng nét đặc thù là Thiên Chúa không ghi khắc trên bia đá nhưng ghi khắc trên trái tim con người, trong lòng người. Điều khoản bao trùm tất cả các điều khoản là Luật yêu thương. Để ký kết giao ước này Thiên Chúa đã đi bước trước, bằng cách ban tặng cho chúng ta Người Con Một của Ngài là Đức Giêsu Kitô, và như thế giao ước không phải ký kết bằng máu bò như Giao ước cũ mà là máu của Chúa Giêsu Kitô, Đấng chịu đóng đinh trên Thập giá.

Trong bài Tin Mừng theo thánh Gioan, Chúa đã nói “ Hạt lúa gieo vào lòng đất phải thối rửa đi mới sinh nhiều bông hạt” . Hình ảnh rất đơn sơ trong tự nhiên được Chúa Giêsu dùng để công bố Mầu nhiệm Thập giá. Chúa Giêsu chấp nhận chịu thối rửa , chịu chết đi, ể rồi từ đó nảy sinh bông hạt. “Khi nào ta được lôi lên mặt đất ta sẽ kéo mọi người lên”.

Mỗi kitô hữu hãy tự hỏi “Tôi sống đức tin công giáo như sống giao ước yêu thương với Thiên Chúa hay coi đó là gánh nặng lề luật” . Nếu vì lề luật ta sẽ dễ bỏ cuộc vì có quá nhiều cám dỗ bên ngoài mời gọi ta bỏ gánh nặng lề luật để sống thoải mái . Chỉ khi ta sống giao ước yêu thương với Thiên Chúa thì ta mới bền vững

Nếu ý thức giao yêu thương chính là đức tin ta đang sống thì những công việc y tế chúng ta làm không chỉ đơn thuần là nghề nghiệp mà là những hành động tình yêu. Trong thưc tế, liệu những công việc y tế có còn ý nghĩa yêu thương không hay chỉ là dịch vụ thuần túy hay là phương thế làm ăn? Việc làm của các y các bác sĩ có phần nào gần với việc của các linh mục: chữa lành bằng ơn tha thứ, lời chia sẻ, khuyên nhủ, đồng hành, ban bí tích, rao giảng Lời Chúa . Khi nói đến linh mục, người ta nói đến Đức ái Mục tử. Nhưng dù biết và ý thức điều đó nhưng đôi khi vì mệt mỏi, vì quá bận nhiều việc, linh mục không đáp ứng nhu cầu đích thực cần thiết của anh chị em. Cũng thế, có những lúc người ta thực hiện công tác y tế, không còn với tinh thần yêu thương bác ái, nhưng chỉ là dịch vụ, là phương thế làm ăn bất kể giá trị đạo đức. Như thế, thật đáng buồn .

Hôm nay, trong bầu khí Mùa Chay, có dịp ngồi lại với nhau trong bầu khí tĩnh lặng của nhà nguyện nhỏ bé này, để ôn lại, khám phá ra, lắng nghe lại, lời mời gọi của Chúa trong bổn phận của mỗi người, Đức cha ước mong: Nhờ ơn soi sáng của Thiên Chúa, mọi người tìm lại được năng lực mà nhiều khi vì căng thẳng mệt mỏi, chán nản đã bị suy giảm đi. Với năng lực đó, ta sẽ sống đúng tinh thần giao ước yêu thương mà ta ký kết với Chúa.

Sau thánh lễ, bác sĩ Giuse Phan Văn Dũng, đại diện giới y tề, cám ơn Đức cha và quý cha đồng hành vì yêu thương đã đến dâng thánh lễ cầu nguyện cho giới y tế và xin các ngài tiếp tục cầu nguyện để mọi người sống đúng trách nhiệm nghề nghiệp, biết quan tâm yêu thương phục vụ tốt các bệnh nhân.

Đáp lời, Đức cha khẳng định: Giáo Hội không thể hiện diện cách cụ thể trong tất cả các môi trường xã hội. Chính các bạn, những người hiên diện trong môi trường y tế, hãy là những chứng nhân Tin mừng, chứng nhân của Chúa trong môi trường đặc biệt này.

Trong quyết tâm “Dấn thân theo Chúa”, mọi người hát vang bài kết lễ “Xin cứ dùng con theo ý riêng Ngài để con mãi mãi là con của Cha, là men, là muối cho đời, là anh em của nhau…

Buổi tĩnh tâm kết thúc vào lúc 16giờ 30 .

Read more ...

Ân nhân của những bệnh nhân phong ở Di Linh

DI LINH - Theo quan niệm trong dân gian, nỗi bất hạnh lớn nhất của con người là mắc phải bệnh phong cùi, có nơi gọi là bệnh hủi. Bởi vì căn bệnh này không chỉ vì khó chữa trị mà người bệnh còn bị gia đình, cộng đồng xa lánh, hắt hủi. Thế nhưng những bệnh nhân phong cùi ở Di Linh (Lâm Đồng) lại có được sự may mắn vì ở đây có những con người không chạy trốn họ mà dám chia sẻ nỗi khổ đau với họ, nâng đỡ họ vượt qua được những mặc cảm định kiến để vươn lên làm một người bình thường. Nữ tu Mai Thị Mậu là một người như thế. Chị đúng là ân nhân của những bệnh nhân phong.

Trại phong Di Linh được thành lập từ những năm 50 của thế kỷ XX và người có công lớn là Giám mục Jean Cassaigne. Vị Giám mục này sau 14 năm cai quản giáo phận Sài Gòn đã xin từ nhiệm lên Di Linh, lúc đó còn là vùng rừng thiêng nước độc, cùng với một số nữ tu để xây dựng một nơi cho những người bị bệnh phong cùi có chỗ trú ngụ và chữa trị. Cuối cùng , chính vị Giám mục này đã bị lây bệnh cùi và chết ở mảnh đất này nam 1973.

Là một nữ tu của dòng Nữ tử Bác ái Vinh sơn, quê ở Hải Hậu, Nam Định, nữ tu Mai Thị Mậu được nhà dòng cho đi học nghề y để có thể phục vụ đồng bào được hữu hiệu hơn. Chị cũng như tất cả các nữ tu khác của dòng đều có tâm niệm rằng, được phục vụ người nghèo khổ đó là niềm hạnh phúc vì theo đức tin của các chị, người nghèo khổ bệnh tật, bất hạnh, đó chính là anh chị em. Được phục vụ săn sóc họ chính là phục vụ, săn sóc cho Chúa, cho anh chị em mình. Niềm tin đó cùng với nhiệt huyết của tuổi trẻ đã thúc đẩy chị đến với trại phong Di Linh vào năm 1965.

Ngay ngày đầu tiên đến Di Linh, vừa chân ướt, chân ráo, chị đã gặp một người đàn ông, hủi ăn cụt cả bàn tay, hớt hải chạy đến kêu chị giúp đỡ. Vợ anh ta trở dạ mà mãi không sinh được. Soeur Mậu đâu có học nghề đỡ đẻ. Nhưng ở đấy, lúc đó chẳng ai biết nghề y. Vậy là chị nhận lời đi. Trời tối, đèn đóm chẳng có mà sản phụ thì đau đớn kêu la. Chị vừa động viên sản phụ, vừa làm các động tác giúp sản phụ dễ sinh hơn. Để có ánh sáng, người chồng phải đốt củi ngò. Đây là loại cây khi cháy rất khói, vì vậy nước mắt của chị chảy giàn dụa. Phải 3 tiếng đồng hồ đứa trẻ mới chịu ra chào đời vì nó quá lớn, nặng những 4,5 kg. Thế nhưng sản phụ lại bị sa tử cung. Giữa rừng, biết tìm đâu ra bác sĩ bây giờ? Vậy là chị cứ làm theo bản năng, tẩy trùng sạch sẽ rồi đẩy vào. Chị phải thức trắng cùng sản phụ vì lo lắng. May mắn là họ đã mẹ tròn con vuông. Thế là từ đấy, chị trở thành bà đỡ mát tay cho bao đứa trẻ ở đây chào đời và cũng thành bà mối cho bao bệnh nhân trong trại phong Di Linh nên vợ nên chồng.

Công việc của Soeur Mậu ở trại phong rất tất bật. Trại có 354 bệnh nhân trong đó có 147 người bị tàn phế vĩnh viễn. Có những gia đình mấy thế hệ đều là bệnh nhân và đều do tay Soeur Mậu chăm sóc. Vì vậy công việc vô cùng bận rộn từ 7 giờ sáng đến 5 giờ chiều. Ngày nào cũng như ngày nào. Nếu có chút thì giờ là chị ra vườn cà phê để có thể hướng dẫn cho một số bệnh nhân có sức lao động có thể làm ra sản phẩm từ chính bàn tay của họ.

Điều lo lắng nhất của Soeur Mậu không chỉ là chữa lành cho các bệnh nhân phong ở đây mà làm sao để họ có thể hoà nhập với cộng đồng, với xã hội. Dĩ nhiên, điều này cần ở cả hai phía, dư luận xã hội và chính những người bệnh nhân phong. Đối với bệnh nhân, phải làm cho họ có ý chí vươn lên. Muốn vậy, họ cần được học hành. Không có giáo viên, các chị tự làm giáo viên. Không có giáo án, sách giáo khoa, các chị tự mày mò sao cho con em người bệnh có thể đọc được cái chữ, biết làm tính. Nhưng chỉ đọc thông viết thạo chưa đủ, muốn vươn lên phải học cao hơn nữa. Vậy là chị Mậu cho mở lớp học tập trung. Con em bệnh nhân được nuôi ăn, ngủ tại trại để chuyên lo việc học văn hoá. Chúng được nuôi dạy chu đáo hơn ở nhà nhưng cũng phải học hành cẩn thận dưới sự giám sát của các nữ tu. Chị Mậu luôn đi kiểm tra buổi tối từ việc làm bài tập đến việc đi ngủ của trẻ. Bao giờ đưa trẻ cuối cùng yên giấc chịu mới về phòng của mình. Tình cảm yêu thương của Soeur Mậu đã là định hướng cho một số em đi theo nghề y và quay về phục vụ chính những bệnh nhân của trại Di Linh như y tá Ka Sỉu, bác sĩ K’Điu. Y tá Ka Sỉu nói:

- Cháu từ lúc sinh ra đã được Soeur Mậu chăm sóc, yêu quý. Cháu chọn nghề y là muốn phụ giúp cho Soeur Mậu đỡ vất vả và giúp đỡ chính bà con bệnh nhân ở đây.

Còn ông K’ Bles- bố đẻ của bác sĩ K’ Điu lại vô cùng xúc động vì nhờ có Soeur Mậu mà con trai của ông nay mới trở thành bác sĩ và hiện là Phó Giám đốc Trung tâm. Đó là niềm tự hào của gia đình ông, một gia đình có ông bà là bệnh nhân phong của trại Di Linh. Ông nói:

-Tất cả chúng tôi ở trại Di Linh này đều biết ơn bà Mậu. Mọi người ở đây gọi bà ấy là Mơi Mậu tức Mẹ Mậu. Ông bà tôi là bệnh nhân được bà ấy chăm sóc đã đành, đến đời chúng tôi và con cái chúng tôi dù không mắc bệnh vẫn được bà ấy chăm lo, nâng đỡ như con cháu ruột thị trong nhà.

Ông kể lại những hình ảnh kinh hoàng trong quá khứ đã ám ảnh biết bao bệnh nhân bị phong cùi. Những người không có bàn tay, không có ngón tay, phải dùng dây chun buộc cuốc, rựa vào cùi tay để cày cuốc kiếm ăn qua ngày, máu chảy đỏ cả luống cà phê. Có người bị vi khuẩn phong ăn mất cả sống mũi, hai cái hốc vếch lên trời. Có người bị hủi ăn mất cả thanh quản, gặp người chỉ ú ớ, khắp người lở loét. Họ bị dân làng xua vào rừng, chết dần chết mòn và làm mồi cho cọp vì nghe nói cọp rất thích ăn thị người cùi. Đơn giản người bị bệnh cùi rất nặng hơi nên cọp dễ phát hiện và họ cũng không có sức để chạy trốn hay chống đỡ.

Đau với nỗi đau của người bệnh, nên Soeur Mậu tìm mọi cách để làm giảm nỗi đau đớn của họ. Do bị cùi ăn nên tay chân người bệnh biến dạng, không đi giày dép được. Sau năm 1975, thấy bộ đội có đôi dép lốp, Soeur Mậu tìm một thợ ở Sài Gòn lên làm dép cho từng người. Những đôi dép lốp cao su đã mang lại niềm vui cho các bệnh nhân vì giờ đây họ có thể rửa chân lên giường đi ngủ và ra đường không phải cọ chân đến chảy máu trên cát sỏi nữa. Thế nhưng Soeur Mậu vẫn còn băn khoăn vì những đôi dép đó không đẹp và nhất là vẫn gây đau cho người bệnh. Soeur tìm bạn bè dò kiếm. Niềm vui đã đến với Soeur khi một tổ chức nhân đạo đã đồng ý trang bị cho trại Di Linh một phòng làm giày chỉnh hình cho các bệnh nhân phong. Nói sao hết được niềm vui của các bệnh nhân khi được đến đo chân đóng giày. Họ đã được đối xử như những người bình thường khác.

Soeur Mậu vẫn còn lo xa hơn nữa. Chẳng lẽ cứ tập trung các bệnh nhân quanh quẩn ở trại Di Linh? Vậy là Soeur lo kiếm đất, tạo lập một cơ sở 2 cho trại. Mảnh đất này là của một bác sĩ người Đức gốc Pháp khi đến nhờ Soeur chữa bệnh. Bệnh khỏi, ông muốn cảm ơn. Soeur Mậu đề nghị ông bán rẻ cho mảnh đất. Và ông đã bán lại 53 ha với giá 15 cây vàng vào năm 1973. Bây giờ khu đất này là một làng mới cho các gia đình bệnh nhân đã lành bệnh, để họ có cơ hội làm kinh tế, có cơ hội hoà nhập với cộng đồng. Cái làng mới đó giờ đã hình thành ở xã Gia Hiệp. Đã có 135 gia đình tình nguyện đến nhập làm cư dân của làng. Mỗi gia đình đều được cấp 4 sào đất và một ngôi nhà trị giá 12 triệu đồng. Soeur Mậu và các nhân viên đã dạy cho họ biết cách trồng cà phê, chăn nuôi và cả cách tính toán quản lý một gia đình. Bây giờ nhiều gia đình đã có một cơ ngơi, tuy chưa giàu có nhưng cũng không thua kém với những người ở làng bên. Gia đình chị Ka Đim là một gia đình như thế. Chị có vườn cà phê, trong chuồng có vài chục con lợn lớn nhỏ. Chị xúc động kể:

- Chúng tôi được Soeur Mậu dạy dỗ từ cách trồng cấy, chăn nuôi đến việc tằn tiện chi tiêu trong gia đình. Cha mẹ chúng tôi cũng không chỉ bảo được như thế. Soeur Mậu là ân nhân của tất cả chúng tôi.

Cơ sở 2 này bây giờ cũng có một xưởng may dạy nghề cho các em gái để sau này các em có thể sống tự lập. Làng cũng có một nhà trẻ để cha mẹ chúng có thể yên tâm đi làm. Dù bận đến đâu, mỗi tuần Soeur Mậu cũng ghé qua nhà trẻ để dạy các cháu hát và nghe chúng bi bô chào. Điều đáng mừng là 100% trẻ em ở làng này đều được đến trường. Có nhiều em còn được học lên cao. Có 10 em đang học phổ thông trung học và 4 em đang học đại học. Vậy là làng này còn có triển vọng đi lên nữa. Đó cũng là niềm vui của người nữ tu Mai Thị Mậu khi bước vào tuổi 63.

Gần 40 năm gắn bó với trại phong Di Linh, Soeur Mậu chưa bao giờ kêu ca phàn nàn về lương bổng bởi chị rất cảm thông với địa phương Lâm Đồng còn nghèo không được khá giả như nhiều tỉnh thành khác. Theo gương chị, các nữ tu cũng như các nhân viên ở đây, đều cần cù, tận tuỵ với công việc, không ai bỏ nghề, bỏ việc đi nơi khác. Bởi vì những lúc khó khăn nhất, Soeur Mậu đã không bỏ các bệnh nhân phong mà đi thì nay sao lại bỏ trại Di Linh mà đi cho đành lòng? Và nếu không có họ thì với mức trợ cấp của Nhà nước là 120 ngàn đồng /tháng một bệnh nhân nặng làm sao có thể đủ trang trải được với mức giá cả đắt đỏ như hiện nay.

Bây gìơ công việc của Soeur Mậu cũng đã bớt nhọc nhằn hơn vì đã có những nhân viên trẻ trung thay thế nhưng trong cương vị là người quản lý ở đây, đầu óc của chị vẫn không bao giờ ngơi nghỉ. Chị nói:

- Người bị bệnh phong cùi bây giờ đã đỡ khổ hơn nhưng vẫn còn cơ cực lắm. Cà phê năm được năm mất mà nếu được mùa có khi giá lại hạ. Phải tìm cây khác chắc ăn hơn. Tôi đang thử đưa cây ăn trái vào trồng. Hy vọng đây sẽ là lối đi để dân có cuộc sống ổn định.

Khi hỏi về cuộc sống của chị, chị lại chỉ nói về các đồng nghiệp. Họ đã cộng tác với chị và gắn bó với chị như chị em trong một gia đình. Những bệnh nhân thì hết lời ca ngợi các chị nhưng chính Soeur Mậu lại nói rằng, chị học được rất nhiều đức tính tốt của người bệnh như tính kiên nhẫn, vượt thắng nỗi đau thể xác và tinh thần, chấp nhận bệnh tật để vươn tới tương lai.

Nhà nước ghi nhận những hy sinh đóng góp của Soeur nên đã tặng thưởng huy chương Anh hùng lao động. Điều đó chứng tỏ công sức của chị đã được xã hội ghi nhận. Tuy nhiên chị còn vui hơn khi địa phương dù còn nghèo đã đầu tư xây dựng cho trại phong Di Linh một cơ ngơi khá khang trang. Người bệnh giờ đây đã có chỗ ở và điều trị thoáng mát hơn và đặc biệt trẻ em đã có lớp học, có sân chơi. Trại phong Di Linh bây giờ không còn nỗi khiếp sợ mà đã vang lên tiếng hát, tiếng cười của con trẻ.

Sau khi chương trình “Người xây tổ ấm” Đài truyền hình Việt Nam năm 2004 nói về Soeur Mai Thị Mậu phát sóng. Có rất nhiều người đã đến thăm trại phong Di Linh như để chia sẻ với các bệnh nhân và cũng để tận mắt chứng kiến những việc làm âm thầm nhưng cao thượng và đầy tình nhân ái của Soeur. Không ít người đã đặt ra câu hỏi: Vì sao Soeur làm được như thế? Soeur Mậu trả lời: Vì tôi là ngưòi may mắn được Chúa cho lành lặn nên tôi phải chia sẻ cho anh chị em tôi là các bệnh nhân phong. Tôi thay mặt những người lành lặn đến đây và tôi biết có nhiều người cũng muốn thế nhưng chưa có điều kiện.

Khi chúng tôi hỏi về những ước muốn của Soeur, chị nói:

- Tôi chỉ mong tất cả những người bệnh nhân phong sớm được tái nhập vào cộng đồng xã hội, được xã hội tạo điều kiện học văn hoá, học nghề để lập nghiệp như những người bình thường khác.

Chúng ta cầu chúc cho những ước mong của Soeur Mậu sớm thành hiện thực và cầu mong cho xã hội ta có thêm nhiều người có lòng nhân ái như nữ tu Mai Thị Mậu để làm dịu bớt các nỗi đau của những người kém may mắn.

Năm nay, Soeur Mậu đã ngoài 70, dã nghỉ hưu nhưng vãn chưa rời công việc chăm sóc bệnh nhân ở trại phong Di Linh. Người ta hỏi Soeur sao chưa về nghỉ tuổi già? Soeur đáp: “Làm sao tôi bỏ di được, khi bà con luôn chờ tôi cũng giống như tôi đi láy chồng thì trại phong này cũng là gia đình chồng tôi vậy. Tôi sẽ thuộc về nơi này mãi mãi.”

Read more ...

Đoàn Y Bác Sĩ Chi Hội Từ Thiện Hy Vọng phục vụ người nghèo tại Phan Thiết

Thứ bảy ngày 10.03.2012, đáp lại lời mời của cha Phó Giám đốc Caritas Phan Thiết, Đoàn Y Bác Sĩ Chi Hội Từ Thiện Hy Vọng thuộc Hội Bảo Trợ Bệnh Nhân Nghèo TP Cần Thơ đã vượt đường xa đến khám chữa bệnh cho khoảng 1200 bệnh nhân nghèo của các xã lân cận giáo xứ Kim Ngọc, GP Phan Thiết.

Xem hình ảnh

Đoàn đến với bà con nghèo hôm nay gồm 65 bác sĩ, dược sĩ chính quy hiện đang công tác tại bệnh viện lớn của TP Hồ Chí Minh như: Bệnh viện Chợ Rẫy, Bệnh viện Thống Nhất, Bệnh việnh 115, Bệnh viện Nhi đồng, Bệnh viện Ung Bướu, Bệnh viện Quân Khu 7… Tiêu chí thành viên y, bác sĩ của đoàn là những người có kinh nghiệm trong nghề từ 5 năm trở lên và nghỉ hưu không quá 5 năm.

Máy móc và trang thiết bị như máy siêu âm, máy đo điện tim … thuốc men của đoàn mang theo phục vụ bệnh nhân đều gồm những loại mới và tuân thủ theo tiêu chuẩn quốc tế (thuốc cận date 6 tháng không dùng). Bà Mỹ Phước (nhiều người quen gọi bà Hải theo tên chồng của bà), trưởng đoàn và là người lo kinh phí của toàn bộ chuyến đi cho biết: Chi Hội Từ Thiện Hy Vọng luôn muốn dành những gì tốt nhất để phục vụ hiệu quả cho các bệnh nhân nghèo, vùng sâu vùng xa bởi chính bản thân bà đã trải qua cảnh nghèo khổ nên bà hiểu rõ nhu cầu cần được chăm sóc sức khỏe của bà con.

Trong lần khám chữa bệnh này, Các bác sĩ có đủ các chuyên khoa như: đa khoa, nội- ngoại khoa, nhi khoa, ung bướu, tim mạch, da liễu, nha khoa, nhãn khoa .v.v. Các bác sĩ tận tình khám bệnh cho bà con và hướng dẫn cách giữ sức khỏe. Riêng các bệnh nhân mắt được khám định bệnh: nhẹ thì cho thuốc, nặng cần phẫu thuật thì được giới thiệu mổ miễn phí tại Sài Gòn. Một số chị em phụ nữ được tư vấn để hỗ trợ điều trị hoặc phẫu thuật khi bị u nang, bướu …

Cùng đi theo đoàn, còn có 3 cây kéo vàng phục vụ cắt tóc cho mọi người. Đoàn cũng gởi 300 phần quà đến cho bà con gồm thực phẩm và mùng mền.

Đoàn Y Bác Sĩ Chi Hội Từ Thiện Hy Vọng chính thức hoạt động từ tháng 3/2009 đến nay. Mỗi chuyến đi khám bệnh và cấp thuốc miễn phí, tặng quà cho bà con nghèo vùng sâu, vùng xa trong cả nước có giá trị từ 120 - 160 triệu đồng, có chuyến tăng lên gần 200 triệu đồng và số người được khám bệnh mỗi đợt từ 1.200 đến 1500 lượt. Trung bình mỗi tháng đoàn hỗ trợ mổ mắt cho từ 100 - 150 bệnh nhân nghèo. Y Bác Sĩ Chi Hội Từ Thiện Hy Vọng không chỉ phục vụ bệnh nhân trong nước mà đã thường xuyên đến Lào, Campuchia để chăm sóc sức khỏe cho người nghèo.

Thay lời những bệnh nhân được khám chữa bệnh và nhận quà hôm nay, Caritas Phan Thiết xin tri ân Quý vị Y Bác Sĩ Chi Hội Từ Thiện Hy Vọng và quý ân nhân. Xin Chúa chúc lành cho công việc vô cùng ý nghĩa mà đoàn đang thực hiện. Bởi giữa những mảng đen của con người trong xã hội hôm nay, thì vẫn có những tấm lòng vì người khác như Quý Vị đến thắp lên ngọn lửa Hy Vọng cho người nghèo khó để họ can đảm bước tiếp hướng về tương lai tươi đẹp hơn.

http://vietcatholic.net/News/Html/96377.htm

Read more ...

Giới Trẻ Trước Căn Bệnh Vô Cảm

Nhân loại đã bước vào kỷ nguyên mới, một kỷ nguyên với rất nhiều thuận lợi giúp cho con người, đặc biệt là giới trẻ có điều kiện học hỏi, trau dồi và tiếp cận với nhiều phương tiện hiện đại. Tiếc thay, giá trị đạo đức lại bị xói mòn bởi chủ nghĩa thực dụng, chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa cá nhân, dẫn đến “bệnh vô cảm”. Bệnh này thể hiện ở chỗ không hề động lòng trước những nỗi đau của người khác, cũng như không hề phẫn nộ trước những tệ nạn xã hội xảy ra trước mắt. Con người hầu như trở nên vô tình trước cuộc sống của người khác, để “Mạnh ai nấy sống”, “Phải ai tai nấy”. Lời cha ông ta đã dạy: “Một con ngựa đau cả tàu bỏ cỏ” hay “Thương người như thể thương thân” từ lâu đã trở thành đạo lý của con người Việt Nam. Truyền thống tốt đẹp ấy luôn được đồng bào ta giữ gìn và phát huy. Thế nhưng ngày nay, bên cạnh những con người biết đồng cảm, chia sẻ, luôn nghĩ đến người khác còn có những kẻ thờ ơ, lãnh đạm, ích kỷ, chỉ nghĩ đến bản thân. Đối với những người mắc “bệnh vô cảm” này, chúng ta cần giúp họ hiểu rõ lời dạy của cổ nhân:

“Nhiễu điều phủ lấy giá gương,

Người trong một nước phải thương nhau cùng”.

Vấn đề vô cảm trong xã hội hiện nay đang là thách đố cho các nhà giáo dục, các bậc cha mẹ, cũng như những người có trách nhiệm. Tìm hiểu thực trạng và nguyên nhân của “bệnh vô cảm”, chúng ta sẽ thấy tác hại ghê gớm của nó hầu tìm ra phương cách để chống lại căn bệnh quái ác này.

1. Thực trạng vô cảm của giới trẻ

Ngày nay, giới trẻ có nhiều cơ hội học hỏi, trau dồi kiến thức hơn các thế hệ đi trước, nhiều trường công và trường tư mở ra để đào tạo những con người có tri thức, có đạo đức, hầu phục vụ cho nhân quần xã hội, dẫn đưa đất nước đến một nền văn minh tiên tiến, theo kịp đà tiến bộ của các nước trên thế giới. Nhưng thật đau lòng mỗi khi những hình ảnh vô cảm và thiếu đạo đức của giới trẻ được các phương tiện truyền thông đưa lên mặt báo hay chúng ta tận mắt chứng kiến những cảnh đau lòng. Chẳng hạn như các bạn nữ sinh đánh nhau, cởi đồ và xé áo bạn mình đang có nguy cơ trở thành một “phong trào” hay là học sinh đánh thầy cô giáo đến nỗi phải nhập viện. Điều đáng lên án là, khi chứng kiến các vụ việc trên, hầu hết các bạn đều dửng dưng, bàng quan như không thấy gì. Thay vì can ngăn, giải thích đúng sai, thì họ lại cổ vũ, ủng hộ hết mình cho những hành động vô đạo đức và thiếu văn hóa đó.

Mới đây, cư dân mạng lại giật mình trước hành vi côn đồ của một nhóm nữ sinh ở Bắc Giang, Bắc Ninh, Quảng Ninh, Hải Phòng, Hà Nội… với những màn đánh đập, xé áo, cắt tóc. “Người quay lại những hình ảnh đó là một nam sinh. Kèm theo những lời chửi bới của những cô gái hành hung, còn cổ vũ nhiệt tình, hứng khởi của anh chàng này: “Cởi áo đi, cởi áo đi, xé áo đi…!!!” . Hơn nữa, nhiều người cũng ngỡ ngàng vì sự thờ ơ của những thế hệ 8x, 9x. Mặc dầu các bạn có điều kiện nhưng lại không sẵn lòng giúp đỡ những người gặp khó khăn, hoạn nạn. Rất nhiều người trẻ, khi thấy những người hành khất thì xua đuổi, dè bỉu. Gặp người bị tai nạn, thay vì dừng lại giúp đỡ nhưng lại bỏ đi như không có chuyện gì xảy ra, thậm chí có kẻ không những chẳng cứu giúp nạn nhân mà còn lợi dụng cơ hội tìm cách lấy cắp tiền của người bị nạn.

Lại nữa, trong thời gian gần đây, tình trạng tội phạm giết người càng được trẻ hóa. Rất nhiều tội phạm đang ở thế hệ 8x, 9x. Chẳng hạn mới đây, dư luận xôn xao về vụ thảm sát, cướp tiệm vàng Ngọc Bích (phố Sàn, huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang). “Kẻ vô cảm” đã giết ba mạng người, đó là thanh niên Lê Văn Luyện, 17 tuổi. Có người đã nói: “Hành vi phạm tội của Lê Văn Luyện là đặc biệt nghiêm trọng, có tính chất dã man, tàn bạo, vô cảm chưa từng có từ trước tới nay”. Ngoài ra, còn có Hồ Nhật Linh,18 tuổi, ngụ tại Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình đã đâm 95 nhát dao vào thai phụ có bầu 8 tháng tuổi, sau đó vứt xác nạn nhân xuống mương…

Thực trạng của “bệnh vô cảm” này đang diễn biến hết sức phức tạp. Một lần nữa, tiếng chuông báo động về sự vô cảm lại được rung lên, đặc biệt đối với giới trẻ. Ông cha ta đã thấy rõ được những tác hại của nó nên đã tích cực phê phán, lên án những thói xấu chỉ biết vun quén cho riêng mình: “Đèn nhà ai nhà ấy sáng”, hay “Cháy nhà hàng xóm bình chân như vại”. Quả thật, không thể dung thứ cho những hành động vô cảm ấy. Nó đồng nghĩa với việc vứt bỏ truyền thống của dân tộc, cũng là vứt bỏ chính bản thân mình.

2. Nguyên nhân dẫn giới trẻ đến vô cảm

Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng vô cảm và tha hoá đạo đức của giới trẻ, nhưng tựu chung, cái gốc chính là cách sống của giới trẻ ngày nay, và cách giáo dục nhân bản từ trong gia đình cho đến nhà trường và ngoài xã hội còn quá thờ ơ, hời hợt.

2.1 Nguyên nhân bản thân

Do bản thân họ thiếu tình yêu thương, thiếu lòng quảng đại; họ sống bằng thứ lý trí sắt đá, tình cảm khô cằn của mình. Thêm vào đó, do ngoại cảnh tác động: khi một con người bị chính cái xấu hãm hại, khi mà những điều tốt đẹp không xảy đến với bản thân, thì họ sẽ trở nên hận đời và vô cảm trước cuộc đời. Họ không còn lòng tin vào điều tốt, thế nên họ vô cảm trước những điều tốt đẹp trên cuộc đời này. Đối với họ, nhà hàng xóm gặp hoạn nạn, có người thân mắc phải tệ nạn xã hội, họ cũng bàng quan như không hay biết, không hỏi han, cũng chẳng an ủi một vài lời. Trên đường đi, gặp người bị nạn, họ bỏ đi, chẳng thèm quan tâm sống chết ra sao, hoặc có ghé lại thì cũng chỉ để thỏa mãn tính hiếu kỳ, giương đôi mắt ếch nhìn chung quanh, không hề giúp đỡ nạn nhân vì họ sợ phải gánh trách nhiệm. Gặp kẻ bất hạnh, tàn tật nằm bên vệ đường, họ chẳng những không thương xót mà còn khinh bỉ, rẻ rúng những con người kém may mắn đó. Quả thật, đó là những hành động đáng lên án.

Theo chuyên viên tư vấn Lý Thị Mai thuộc Trung tâm Tư vấn Hôn nhân và Gia đình TPHCM, cho biết: “Do tâm lý sống ‘chỉ biết mình’ khá phổ biến trong giới trẻ ngày nay, căn bệnh vô cảm đã thật sự xâm nhập và ăn sâu trong thế hệ trẻ hiện giờ!” Hơn nữa, sự vô cảm bắt nguồn từ lối sống ích kỷ, thực dụng, hưởng thụ là nguyên nhân khiến người ta cảm thấy cuộc sống nhàm chán, đơn điệu, vô nghĩa. Hậu quả là, những xúc cảm đạo đức bị hạn chế, thậm chí bị triệt tiêu.

2.2 Nguyên nhân từ gia đình

“Gia đình chính là tế bào của xã hội, gia đình mà tốt đẹp thì xã hội mới tốt đẹp được”. Đây chính là bài học giáo dục công dân của học sinh cấp II. Thế mà ngày nay, trong nhiều gia đình, cha mẹ rất ít dạy con có sự đồng cảm với người khác, với những người chung quanh. Theo chuyên gia tư vấn tâm lý Triệu Hồng Như thuộc Trung tâm Tư vấn Tâm lý Hà Nội: “Cách phản ứng, hành vi của giới trẻ một phần là do học hỏi ngoài xã hội và một phần là do ảnh hưởng từ trong gia đình, cũng có khi là do lối sống mà giới trẻ tự tạo nên… Thói quen bó hẹp giao tiếp, chỉ giao lưu với những người ảo trên mạng game online. Những cảnh bạo lực từ đấm đá đến chém giết man rợ, đầy rẫy trong các trò chơi điện tử, trên ti vi, trong truyện tranh; những thú vui giải trí được giới trẻ yêu thích sẽ dẫn tới thờ ơ hay lãnh đạm với những việc xảy ra xung quanh, đó là một hệ quả không tránh khỏi”.

Đúc kết kinh nghiệm giáo dục con cái, ông cha ta đã khuyên: “Dạy con từ thuở còn thơ”, cũng tựa như uốn cây tre, phải uốn từ lúc tre còn non. Nhưng dường như nhiều gia đình ngày nay không coi trọng điều này, không quan tâm đến việc dạy con phải có sự đồng cảm, yêu thương, giúp đỡ và biết tha thứ cho người khác. Bởi lẽ, cha mẹ thiếu gương mẫu về đạo đức, về lối sống, cũng không quan tâm dạy bảo con cái. Hiện nay, có bao nhiêu bậc cha mẹ chịu bỏ thời gian dạy con cái biết cách đối nhân xử thế, biết tôn trọng mình và tôn trọng người khác, dạy con có lòng khoan dung, độ lượng, vị tha và những chuẩn mực giá trị đạo đức mà con người phải sống theo và tôn trọng với tư cách là một con người?

Hơn nữa, nhiều phụ huynh vì cưng chiều con nên đáp ứng tất cả những yêu cầu vô lối của con một cách vô điều kiện. Thế nhưng, họ lại không dạy con phải biết chia sẻ, quan tâm và có trách nhiệm với người thân, với bạn bè. Một đứa trẻ chỉ biết "nhận" chứ không biết "cho" sẽ nghèo nàn về cảm xúc, vô tâm trước đòi hỏi của tình người, và bàng quan trước nỗi đau của kẻ khác.

2.3 Nguyên nhân từ nhà trường

Nhà trường là nơi đào tạo ra những con người có tài đức, biết quan tâm đến mọi người và tích cực phục vụ cho nhân quần xã hội. Thế mà ngày nay, trong một số trường học, người ta chỉ chú tâm đến việc nhồi nhét tri thức, còn vấn đề đạo đức dường như đang bị bỏ ngỏ, thậm chí có những trường chỉ dạy môn giáo dục công dân cho qua lần chiếu lệ.

Bên cạnh một số thầy cô mẫu mực, nhiệt huyết với việc giáo dục, vẫn còn đó những thầy cô chưa hoàn thiện nhân cách. “Có thầy cô gọi học sinh là mày xưng tao, có thầy cô chêm cả những câu chửi tục vào lời nói của mình, có thầy cô quát mắng học sinh như kiểu dân chợ búa, … Chính các em đã phải thốt lên rằng “giáo viên ăn nói thô lỗ, vô văn hóa như vậy thì trách sao học sinh không bắt chước” . Những hành động đó ít nhiều xâm nhập vào thế giới quan của giới trẻ, dần dà hình thành lối hành xử thô bạo, thiếu tình thương. Sự vô cảm lẽ nào chẳng bắt nguồn từ đó? Thầy cô được xem như cha mẹ thứ hai của học sinh. Nếu họ vô cảm thì sẽ thiếu tình thương dành cho những đứa con của mình, thiếu nhiệt tình và trách nhiệm trong việc giảng dạy, truyền đạt kiến thức cho học sinh. Vì “vô cảm” họ cũng sẽ “đào tạo” ra những học trò vô cảm như họ. Như thế, ta phải nói sao về những chủ nhân tương lai của đất nước? Đây chính là một mối họa lớn cho xã hội.

Quả thật, môi trường giáo dục đang trở nên bất ổn hơn bao giờ hết. Đó thật sự là mối lo ngại sâu sắc đối với ngành giáo dục và cả xã hội. Nguyên nhân của vấn nạn trên thì có nhiều. Nhưng có một nguyên nhân mà khiến người ta day dứt, trăn trở nhiều nhất, đó là căn bệnh vô cảm, nó giảm sút nghiêm trọng tinh thần đấu tranh đang bao trùm ở khắp nơi, với mọi đối tượng.

2.4 Nguyên nhân từ xã hội

Do ảnh hưởng của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ, với những ứng dụng hiện đại của công nghệ thông tin đã ảnh hưởng đặc biệt đến thế hệ trẻ, làm thay đổi cách thức làm việc, giao tiếp và tư duy, dẫn đến giới trẻ sống vô cảm không quan tâm đến những việc xung quanh. Theo GS Mark Bauerlein (Mỹ), khi càng sử dụng internet thì người ta càng lơ là với những gì diễn ra xung quanh. Khi blog, mạng xã hội xuất hiện, giới trẻ được tự do thể hiện mình. Nhưng một khi tự giam mình quá lâu trong thế giới ảo, một bộ phận giới trẻ sẽ có lối sống bất thường và dẫn tới trầm cảm hay vô cảm,…

Đồng thời, do ảnh hưởng của nền kinh tế thị trường đến đạo đức truyền thống: một mặt, nó làm cho những giá trị truyền thống được phát huy, những giá trị đạo đức mới được hình thành; mặt khác, nó làm nảy sinh tư tưởng ích kỷ, lãng quên trách nhiệm cộng đồng, đề cao cái tôi cá nhân lên trên cái ta cộng đồng, lấy giá trị vật chất làm thước đo cho tất cả. Thạc sĩ tâm lý Nguyễn Thị Minh cho rằng: “Dường như đang có một cuộc khủng hoảng niềm tin trong xã hội hiện đại dẫn đến các bạn trẻ sống vô cảm".

Hơn nữa, căn bệnh vô cảm là kết quả của một lối sống thực dụng ngày càng ăn sâu vào văn hóa của xã hội ngày nay. Khi mà các giá trị sống, giá trị đạo đức tinh thần, lòng bao dung nhân ái, tình thương yêu đồng loại, sự hy sinh... đang dần bị thế chỗ cho chủ nghĩa vật chất, chủ nghĩa duy lợi và chủ nghĩa cá nhân, thì con người không còn cảm giác trước nỗi đau của đồng loại. Bên cạnh đó, do sự gia tăng những bất công xã hội, là tình trạng quan liêu, tham nhũng, lối sống “phong bì”, người lớn không còn là tấm gương đạo đức cho giới trẻ, khiến đạo đức bị suy giảm.

3. Tác hại của căn bệnh vô cảm

Bệnh vô cảm có những tác hại thật ghê gớm, nó không chỉ làm suy giảm đạo đức của một cá nhân mà còn đẩy đất nước đến bờ tụt hậu, suy thoái.

3.1 Bệnh vô cảm có thể dẫn đến chết người

Một bác sĩ nếu “vô cảm” sẽ không có đủ tình thương đối với con bệnh của mình, sẽ đánh mất đi lương tâm của một thầy thuốc, sẽ quên đi phương châm: “Lương y như từ mẫu”. Chẳng hạn, trước một ca cấp cứu, bệnh nhân đang ở trong tình trạng nguy kịch, nhưng vì gia cảnh nghèo, không có tiền để đóng viện phí hay không có tiền để “bồi dưỡng” cho bác sĩ, thì “bệnh vô cảm” khiến cho bác sĩ ấy chậm trễ, thờ ơ hay không nhiệt tình cấp cứu bệnh nhân, cuối cùng để bệnh nhân chết oan uổng, gây đau khổ cho những người thân của họ. Càng đau đớn và chua xót hơn nếu bệnh nhân kia là cha mẹ, là người cột trụ về kinh tế trong gia đình. Họ phải tất tưởi ra đi, để lại những đứa con thơ dại, cha mẹ già không ai phụng dưỡng trong cảnh cô đơn, già yếu. Mới đây tại Bệnh viện Bưu Điện Hà Nội, chỉ vì sự vô cảm của bác sĩ và các y tá, đã dẫn đến cái chết oan uổng của một em bé chưa kịp chào đời. Chị Hao kể: “Chồng tôi đã bồi dưỡng bác sỹ An một triệu đồng, nhờ cứu cho mẹ tròn con vuông rồi gia đình sẽ “hậu tạ” sau. Thế nhưng, bác sĩ An không mổ ngay cho tôi mà đi vào phòng riêng ngồi xem vô tuyến đến tận 23h40, còn 2 hộ sinh nữ là Vũ Thị Diệu Vân và Trần Hoàng Linh ngồi ở một góc phòng ăn bánh kẹo, nói chuyện, làm việc riêng để mặc cho tôi đau đớn trên bàn sinh. Tôi đau đớn khi biết con mình trong bụng đang chết dần chết mòn mà không thể cứu được. Tuyệt vọng, tôi cầu cứu các y tá đang ở gần đó nói giúp với bất cứ bác sĩ nào cũng được, mổ giúp tôi lấy con ra mà không một ai đứng dậy tìm bác sĩ. Họ vẫn cứ thờ ơ, thản nhiên ăn uống, cười đùa với nhau như không có chuyện gì xảy ra cả” . Còn nói về người giữ sinh mạng của nhiều người như tài xế chẳng hạn, mà mắc “bệnh vô cảm” thì cái chết không chỉ mang đến cho một người. Người tài xế “vô cảm” sẽ coi mạng con người chẳng ra gì, cố tình phóng nhanh, vượt ẩu, giành đường để về trước, sẽ gây hậu quả khôn lường. Một vụ tai nạn giao thông tại Bình Thuận mới đây, đã cướp đi sinh mạng của mười người và rất nhiều người bị thương. Nguyên nhân cũng chỉ vì tài xế “vô cảm”, coi mạng người như cỏ rác.

3.2 Bệnh vô cảm có thể để lại tai họa lớn cho xã hội

Thầy cô giáo được xem là “kỹ sư tâm hồn”, là “cha mẹ thứ hai” của học sinh. Nhưng nếu “vô cảm” sẽ thiếu tình thương dành cho những đứa con của mình, thiếu nhiệt tình trong việc giảng dạy, không có trách nhiệm trong việc giáo dục, hờ hững trong việc truyền đạt kiến thức cho học sinh, không quan tâm đến chất lượng giảng dạy, chỉ biết dạy hết giờ là ra về còn kết quả ra sao không quan tâm! Vì “vô cảm” họ sẽ “đào tạo” ra những lớp học trò thiếu trình độ, thậm chí cũng… “vô cảm” như họ. Như thế, các chủ nhân tương lai của đất nước sẽ đi về đâu? Rường cột nước nhà sẽ ra sao, nếu không nói là đã mục nát ngay từ trong trứng nước? Quả thật, đó là một mối họa vô cùng lớn cho xã hội!

3.2 Bệnh vô cảm có thể đưa đất nước đến suy vong

Các cán bộ Nhà nước là “đầy tớ của nhân dân”, hết lòng phục vụ cho công ích, điều hành mọi hoạt động của đất nước. Thế nhưng, họ lại “vô cảm” trước các nguyện vọng chính đáng của người dân, thì họ sẽ không thể nào nhìn thấy và thấu hiểu được những khốn khó trăm bề của dân đen. Thậm chí, lại không giải quyết những tranh chấp, khiếu kiện về tài sản, đất đai của người dân; trái lại, còn nhũng nhiễu, gây khó dễ để được “chung chi”, hoặc trù giập, dùng vũ lực để chiếm lấy cho một tổ chức nào đó để mình được “phong bì” dằn túi riêng. Tất cả cũng chỉ vì tham lam, ích kỷ mà đánh mất đi cái lương tâm, cái phẩm chất đạo đức, cái tác phong nghiêm túc của một cán bộ “cho dân và vì dân”. Từ đó, nhân dân sẽ không còn tin tưởng vào chính quyền nữa, sẽ mạnh ai nấy sống, sẽ vơ vét cho riêng mình, sẽ sống “vô cảm” như cán bộ, chẳng ai lo cho lợi ích chung của cộng đồng dân tộc, phó mặc cho ngoại xâm xâu xé đất nước, tự do giành đất giành biển của chúng ta. Chính những cán bộ “vô cảm” thiếu trách nhiệm này đã gián tiếp đẩy đất nước đến bờ vực của suy vong.

4. Để giới trẻ bớt vô cảm

“Bệnh vô cảm” không phải là tội ác, nhưng chính nó là con đường dẫn đến tội ác. Hơn nữa, nó còn lây lan trong cộng đồng: một người vô cảm thì mọi người xung quanh sẽ vô cảm theo, và cuối cùng, có thể là cả một xã hội vô cảm. Vô cảm còn ví như căn bệnh “ung thư tâm hồn”. Nói đến căn bệnh thể xác thì người ta sợ nhất là ung thư, còn nói đến căn bệnh tâm hồn thì “vô cảm” cũng đáng sợ không kém. Bởi lẽ, nó có sức công phá ghê gớm trên nhân cách và đạo đức của con người. Từ đó, nó phá hủy toàn bộ nền kinh tế và chính trị của cả một dân tộc. Chính vì thế, từ cá nhân đến gia đình, từ trong nhà trường ra ngoài xã hội, phải chung tay góp sức, tích cực đẩy lùi căn “bệnh vô cảm” này ra khỏi đất nước Việt Nam thân yêu của chúng ta.

4.1 Về phía bản thân

Mỗi bạn trẻ hãy sống đúng chuẩn mực đạo đức của con người, biết đồng cảm với mọi người, biết trau dồi, học hỏi những bài học trong cuộc sống về sự công bằng, bác ái, yêu thương những người xung quanh và phải có quyết tâm muốn thay đổi chính bản thân mình. Ngoài ra, cần phải học hỏi những tấm gương của những người đạo đức, đồng cảm trong xã hội. Chẳng hạn mẫu gương các nữ tu đang phục vụ tại trung tâm Sida giai đoạn cuối - Mai Hòa - Củ Chi. Các nữ tu đã đồng cảm với số phận của những người kém may mắn qua cách phục vụ tận tình giúp đỡ họ. Chính vì thế, có những bệnh nhân đã phải thốt lên rằng: “Ở đây, chúng em thật là hạnh phúc vì có các nữ tu phục vụ chăm sóc tận tình và đồng cảm với số phận của chúng em còn hơn những người ruột thịt trong gia đình, chúng em có chết cũng mãn nguyện”. Hay mẫu gương của chàng sinh viên Hiến thuộc Học viện Bưu chính Viễn thông TPHCM. Thấy một cô gái nằm sõng soài bên con lươn xa lộ, “quan sát kỹ hơn, Hiến hốt hoảng thấy hàng chục xe tải, xe khách, container cứ vô tư đi ngang qua, không ai thèm đoái hoài đến cô gái. Trong giây phút ấy, Hiến cùng Sơn vội vàng lao ra đường, không cần đắn đo, bế thốc cô gái, máu ướt đẫm chạy thẳng đến bệnh viện” .

Đặc biệt, chúng ta hãy nhớ lại hình ảnh Đức Giêsu đã dạy chúng ta bài học về sự chia sẻ, sự đồng cảm với người khác. Chúa đã thực hành trước khi dạy chúng ta: Ngài đã biết chia vui trong tiệc cưới Canna, Ngài cũng biết chia buồn với cái chết của Lazarô, của con trai góa phụ thành Naim… Hơn nữa, trong thư gửi tín hữu Rôma thánh Phaolô cũng đã nêu bật về sự đồng cảm với mọi người: “Vui cùng kẻ vui, khóc cùng kẻ khóc” (Rm 12,14).

4.2 Về phía gia đình

Gia đình đóng một vai trò rất quan trọng trong việc hình thành nhân cách con người. Gia đình là ngôi trường đầu tiên của con người, từ đó những đứa trẻ học được nhân cách làm người. Vì thế, muốn cho con cái trở nên tốt, gia đình phải là nơi mọi người sống yêu thương, nâng đỡ và đùm bọc lẫn nhau. Các thế hệ cùng chung sống phải biết quan tâm tới nhau, thì người trẻ mới biết học hỏi, noi gương nếp sống đạo đức. Giáo dục phải cải cách để tăng cường đạo đức, nhân cách cho các em, không chỉ “dạy chữ’ mà nhất là phải “dạy người”. Hơn nữa, phải “Tiên học lễ, hậu học văn”. Theo Tiến sĩ tâm lý giáo dục Đinh Đoàn: “Nếu người lớn có trách nhiệm và quan tâm hơn tới con cái, hành động và cư xử đúng đắn hơn để làm tấm gương cho các em thì sự vô cảm có lẽ đã không lan nhanh và mạnh như thế”.

Nhất là, gia đình phải tích cực, bằng cách quan tâm giáo dục cảm xúc một cách thực tế cho con cái ngay từ nhỏ. “Không chỉ dạy trẻ nhận biết cảm xúc của người khác mà còn hướng dẫn trẻ hiểu nguồn gốc những cảm xúc đó, cũng như ảnh hưởng của cảm xúc đó đến mọi người để từ đó điều chỉnh cảm xúc, hành vi của mình. Các nhà tâm lý học cũng đưa ra khuyến cáo, gia đình phải thay đổi thói quen dạy con kiểu Á Đông: Chỉ ra lệnh mà không quan tâm đến suy nghĩ độc lập của con. Học cách lắng nghe, thấu hiểu và chia sẻ cảm xúc với con cái là việc mà cha mẹ là những người đầu tiên phải làm. Con cái chỉ có thể hiểu được một cách rõ ràng nhất khi được cha mẹ hướng dẫn cụ thể bằng những việc phù hợp. Chính những điều nhỏ nhặt này tạo nền tảng đầu tiên để trẻ bớt nghĩ đến bản thân, mở rộng lòng ra cùng người khác. Và điều quan trọng, người lớn phải tạo cơ hội cho các em thực hiện.”

4. 3 Về phía nhà trường

Môi trường giáo dục ở nhà trường không chỉ là nơi trang bị kiến thức mà còn phải quan tâm đến việc giáo dục nhân cách, đạo đức và đồng cảm với các bạn trẻ. Một khi nhà trường biết quan tâm đúng mức về giáo dục đạo đức cho giới trẻ thì kết quả sẽ khả quan hơn. Vấn đề này, chúng ta thấy rõ trong các trường Công giáo và các cơ sở nội trú của các nhà Dòng. Các học sinh, sinh viên khi được giáo dục ở đó, họ không chỉ biết sống lễ phép với mọi người mà còn sống gương mẫu, ngoan ngoãn, và biết quan tâm yêu thương mọi người. Theo Tiến sĩ Huỳnh Văn Sơn, Trưởng khoa Tâm lý Đại học Sư phạm TPHCM: “Nhà trường không nên chú tâm vào việc dạy kiến thức mà quên đi việc dạy các em nên người. Hơn nữa, mỗi thầy cô giáo phải là tấm gương đạo đức cho các em noi theo”.

Mặt khác, nhà trường nên dạy học sinh biết cách ứng xử, biết quan tâm giúp đỡ mọi người và giáo dục kỹ năng sống có chất lượng, thiết thực, sinh động, bằng cách khơi dậy mạnh mẽ tinh thần dám đấu tranh trong mọi học sinh. Chỉ có như thế, cái xấu, cái tiêu cực, cái thô bạo ở môi trường giáo dục, trong học sinh mới hết đất sống. Đây cũng là cơ sở để xây dựng thế hệ trẻ Việt Nam giàu tình nghĩa, yêu thương nhưng lại mạnh mẽ, không khoan nhượng trước cái xấu, cái ác thường nảy sinh, ẩn nấp dưới nhiều hình, nhiều dángvẻ trong cuộc sống.

4. 4 Về phía xã hội

Xã hội nên quan tâm đến giới trẻ, tạo những cơ hội cho họ, giúp họ sống theo chuẩn mực đạo đức của xã hội, nhất là giúp họ biết quan tâm, yêu thương, hy sinh và biết giúp đỡ mọi người. Tiến sĩ Tâm lý Đinh Phương Duy cho biết: “Giới trẻ ngày nay, không phải là họ không muốn sống cho ra người mà còn muốn sống tốt hơn nữa”. Có người đã nói: “Cơn khát làm một người sống lương thiện, sống đạo đức cháy âm ỉ trong tâm khảm của họ. Chính vì thế, họ đang cần được xã hội quan tâm giúp đỡ, nhất là mở những lớp học về cách ứng xử trong cuộc sống. Đồng thời, họ mong muốn những người có trách nhiệm nên làm gương cho họ”.

Kết luận

Để kết thúc bài viết, xin mượn lời câu ca dao:

“Bầu ơi thương lấy bí cùng

Tuy rằng khác giống nhưng chung một dàn”.

Để nói nên tình cảm của con người với con người, chúng ta không thể đánh đổi bằng những vật chất tầm thường mà chỉ có sự chân thành quan tâm mới có thể duy trì một mối quan hệ bền vững. Trao đi thật nhiều yêu thương, quan tâm và sẻ chia chúng ta sẽ không phải hối hận, vì sớm hay muộn chúng ta cũng sẽ nhận được sự trìu mến ân cần của những người khác. Hãy “tiêu diệt” căn bệnh vô cảm một cách triệt để, hãy trao yêu thương và nhận thật nhiều yêu thương.

Hơn nữa, một xã hội vô cảm là một xã hội chết! Một cuộc sống vô vị và tẻ nhạt của một cỗ máy vô tri, chắc hẳn chẳng ai muốn như vậy. Một nhà văn Nga đã từng nói: “Nơi lạnh nhất không phải là Bắc cực mà là nơi không có tình thương”. Con người sống mà không có tình thương thì chẳng khác chi con vật, chẳng khác chi cái xác không hồn, tồn tại giữa dòng đời một cách vô nghĩa, và sẽ chết dần mòn trong cô đơn, lạnh lẽo. Thế nên, chúng ta hãy tích cực chống lại “bệnh vô cảm”, phải sống có tình thương, có trách nhiệm với cộng đồng và đặc biệt là phải mở lòng mình ra với cuộc sống. Chúng ta nên có một “trái tim nóng” để biết khóc, biết cười, biết lắng nghe, biết yêu thương, biết rung cảm với mọi người. Hãy phát huy truyền thống tốt đẹp của dân tộc: “Lá lành đùm lá rách”, “Thương người như thể thương thân”; phải yêu thương, kính trọng và sống hết lòng với mọi người chung quanh; phải biết: “Vui cùng người vui, khóc cùng kẻ khóc (Rm 12,14). Đó là liều thuốc đặc hiệu để chữa “bệnh vô cảm”. Như vậy, giới trẻ mới là chủ nhân tương lai của đất nước Việt Nam giàu đẹp, hiện đại và văn minh; xứng đáng với nòi giống “con rồng cháu tiên” của một dân tộc Việt Nam bốn ngàn năm văn hiến.

Tu Sĩ Lôrensô: Vũ Văn Trình MF

Read more ...

Hoạt Động Cứu Trợ Của Tổ Chức Phục Vụ Người Tị Nạn – Dòng Tên Jrs Tại Congo

Trong một nỗ lực nhằm ứng phó với tình hình người tị nạn gia tăng với số lượng khổng lồ trong vài tuần gần đây ở vùng phía đông tỉnh Bắc Kivu của Congo, Tổ chức phục vụ người tị nạn – Dòng Tên (Jesuit Refugee Service – JRS) đã bắt đầu cung ứng những hỗ trợ vật chất và giáo dục khẩn cấp cho hàng ngàn người tị nạn.

“Có thể xem đây là một điều ngạc nhiên đối với nhiều người rằng giáo dục đang là một ưu tiên hàng đầu trong tình hình khẩn cấp này. Làn sóng người tị nạn đã gây nên những tổn thương về mặt tâm lý rất lớn đối với trẻ em và chúng tôi cảm thấy có một nhu cầu khẩn thiết nhằm phục hồi trạng thái bình thường cho cuộc sống của họ và việc đi học có thể làm được điều này”, Danilo Giannese, người phụ trách về luật pháp của Great Lakes thuộc JRS cho biết.

Tình hình tồi tệ mới nhất này là hậu quả của 1 chuỗi dài khủng hoảng nhân đạo ở vùng Bắc Kivu vốn phát sinh do các cuộc xung đột giữa nhóm FDLR nổi loạn người Hutu Rwanda, các Lực lượng Dân chủ vì sự giải phóng Rwanda và dân quân địa phương FDC.

Lợi dụng sự vắng mặt của quân đội gìn giữ an ninh Congo, những cuộc đánh nhau lại tiếp tục nổ ra ở vùng biên giới khu vực Walikale và vẫn chưa kết thúc.

Hậu quả của những xung đột thảm khốc này là 4000 gia đình, gần 20.000 người bị buộc phải rời bỏ nhà cửa để đi tìm nơi lánh nạn an toàn ở những vùng lân cận khu vực Masisi vốn là nơi JRS đang điều hành 2 dự án lớn về giáo dục và hỗ trợ khẩn cấp.

Ông Giannese nói thêm rằng: “Từ ngày này qua ngày khác, những người đàn ông, phụ nữ và trẻ em này đã mất hết tất cả những gì họ sở hữu. Họ sợ hãi và bị tổn thương và bị ép sống trong cảnh lầm than màn trời chiếu đất. Họ ngủ trên đất hoặc trong những cái hang tạm bợ. Phụ nữ phải chia sẻ những không gian chật hẹp với những người đàn ông mà họ chẳng hề quen biết và điều này làm gia tăng nguy cơ họ có thể đối tượng của bạo lực.”

Giáo dục cho trẻ em

Khi tình trạng bạo lực làm gián đoạn năm học của hàng ngàn trẻ em tị nạn, JRS đã bắt đầu xây dựng 4 trường học tạm tại 4 ngôi làng là Mahanga, Lushali, Kaandja và Busoro. Theo nhân viên khu vực của JRS, các đội của tổ chức này đang từng bước đồng hành với dòng người tị nạn trong nỗ lực nhằm đảm bảo các giáo viên có thể bắt đầu những hoạt động giáo dục ở bất cứ nơi nào họ tìm thấy chỗ trú ngụ.

“Chúng tôi ước tính có khoảng 2000 gia đình với khoảng 6000 trẻ em đang cần đến giáo dục cơ bản trong 4 ngôi làng này. Điều hiển nhiên là các trường học địa phương không có khả năng để giúp đỡ tất cả lượng người tị nạn đông đảo này. Sau những cuộc họp với các giới chức phụ trách giáo dục địa phương, các hiệu trưởng, giáo viên và phụ huynh học sinh, họ đã chấp nhận đề nghị của chúng tôi về việc thiết lập các trường học di động.” Ernesto Lorda, phụ trách Chương trình Great Lakes của JRS nói.

Với sự trợ giúp của Cao hủy tị nạn Liên Hiệp Quốc, quỹ Nhi đồng Liên Hiệp Quốc và Hội đồng tị nạn Na-Uy, Tổ chức phục vụ người tị nạn Dòng Tên đã bắt đầu xây dựng 6 phòng học tạm thời ở Mahanga và Lushali cũng như lập kế hoạch cung cấp trang thiết bị học tập cho học sinh. Thêm vào đó, các đội hoạt động của JRS đã bắt đầu cung cấp những chiếc giường bằng plastic cho người tị nạn ở những trại tị nạn tạm thời ở Kishondja. Ở Kishondja hiện nay, số lượng người tị nạn đã lên đến 1200 gia đình.

Hiện tại chúng ta đang sống trong những điều kiện rất an toàn: thức ăn dùng đủ hằng ngày, chăn ấm nệm êm, áo quần tươm tất… Chúng ta được sống trong vòng tay yêu thương của cha mẹ, người thân, bạn bè… Chúng ta được học ở những ngôi trường tốt với nhiều phương tiện hiện đại, chúng ta được vui chơi thoải mái và an toàn… Nhìn vào hoàn cảnh đau khổ của anh chị em chúng ta ở Congo có lẽ chúng ta sẽ thấy rằng mình thật may mắn biết bao.

Có khi nào chúng ta nghĩ về họ, những con người phải hứng chịu biết bao đau khổ mỗi khi chúng ta hưởng thụ điều gì đó trong cuộc sống?

Hãy làm điều gì đó! Dù chỉ là dâng một lời cầu nguyện đơn sơ, bé nhỏ lên Thiên Chúa để xin cho bình an và tình thương ngự trị nơi mảnh đất đang than khóc vì đau khổ, lầm than.

Read more ...

[Ebook] ĐẠO THIÊN CHÚA VÀ DÂN NƯỚC VIỆT

ĐẠO THIÊN CHÚA VÀ DÂN NƯỚC VIỆT

LỜI NÓI ĐẦU

Được khích lệ bởi những Văn Kiện của Công Đồng Chung Vatican II như: “ Hiến Chế” Lumen Gentium”, “Gaudium et Spes”, và “Sắc Lệnh :Ad Gentes”, Tuyên Ngôn về Tự Do Tôn Giáo:” Dignitatis Humanae”, và Liên lạc của Giáo Hội với các Tôn Giáo Ngoài KiTô Giáo: “Nostra Aetate” .

(Xin coi: Chú Thích 80, trang 464, trong Sách này) “Thông Cáo của Hội Đồng Giám Mục Việt Nam: Về Việc Tôn Kính Tổ Tiên và Các Bậc Anh Hùng Liệt Sĩ”, do các Giám Mục Hội Nghị tại Đà Lạt ngày 13-14/ tháng 6, năm 1965.)

Đặc biệt, những tài liệu Thượng Hội Đồng Giám Mục Á Châu : Bản trả lời của các Giáo Phận Việt Nam; bài phát biểu của ĐHY Phạm Đìng Tụng: Những ưu tiên của công việc rao giảng Phúc Am tại Á Châu. Tông Thư Hậu Thượng Hội Đồng:”GIÁO HỘI tại Á CHÂU”( Ecclesia in Asia) của Đức Giáo Hoàng Gioan PhaoLô II

Download Ebook


Read more ...
previous